2026-02-18 Thứ Tư
2026-02-22
16:03:51
[Tỷ lệ vận hành nhà máy lọc dầu Nhật Bản giảm nhẹ, tồn kho dầu thô và sản phẩm lọc dầu giảm đồng thời] ⑴ Dữ liệu do Viện Dầu khí Nhật Bản công bố hôm thứ Ba cho thấy tỷ lệ vận hành trung bình của các nhà máy lọc dầu Nhật Bản đạt 84,5% trong tuần kết thúc ngày 14 tháng 2, giảm 1 điểm phần trăm so với mức 85,5% của tuần trước. ⑵ Về tồn kho, tính đến ngày 14 tháng 2, tồn kho dầu thô của Nhật Bản là 9,71 triệu kilolit, thấp hơn mức 10,08 triệu kilolit của tuần trước, giảm 370.000 kilolit. ⑶ Tồn kho sản phẩm lọc dầu cũng giảm. Trong cùng kỳ, tồn kho dầu diesel của Nhật Bản là 1,43 triệu kilolit, thấp hơn mức 1,46 triệu kilolit vào ngày 7 tháng 2. ⑷ Sự giảm nhẹ tỷ lệ vận hành nhà máy lọc dầu và sự sụt giảm chung về tồn kho có thể phản ánh những thay đổi gần đây về nhu cầu hoặc tác động của lịch bảo trì nhà máy lọc dầu. Thị trường sẽ tập trung vào các dữ liệu tiếp theo để xác định xu hướng nhu cầu năng lượng của Nhật Bản.
16:02:52
[Tin đồn về việc bà Lagarde từ chức làm xáo trộn thị trường, lợi suất trái phiếu khu vực đồng euro ổn định ở mức thấp nhất trong nhiều tháng] ⑴ Hôm thứ Tư, lợi suất trái phiếu khu vực đồng euro nhìn chung ổn định, dao động quanh mức thấp nhất trong nhiều tháng. Các nhà đầu tư đang xem xét các báo cáo truyền thông cho rằng Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu Christine Lagarde có thể từ chức sớm. Lợi suất trái phiếu Đức kỳ hạn 10 năm ổn định ở mức 2,743%, cao hơn một chút so với mức thấp nhất trong hai tháng rưỡi là 2,725% đạt được vào thứ Hai. ⑵ Sự chú ý đến tương lai của bà Lagarde đã tăng lên do một báo cáo trên tờ Financial Times. Báo cáo cho biết bà Lagarde dự định rời nhiệm sở trước cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm tới và hy vọng rằng Tổng thống Pháp Macron và Thủ tướng Đức Merz sẽ là những người quyết định quan trọng trong việc kế nhiệm bà. Ông Macron, người đã phục vụ hai nhiệm kỳ, không đủ điều kiện tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2027. Một phát ngôn viên của ECB sau đó đã trả lời rằng bà Lagarde đang tập trung vào nhiệm vụ của mình và chưa đưa ra bất kỳ quyết định nào liên quan đến việc kết thúc nhiệm kỳ. ⑶ Phản ứng của thị trường khá trầm lắng. Lợi suất trái phiếu 10 năm của Ý cũng gần như không đổi ở mức 3,356%, gần mức thấp nhất kể từ tháng 10 năm ngoái. Lợi suất trái phiếu chính phủ 2 năm của Đức, vốn nhạy cảm với kỳ vọng về lãi suất, vẫn không thay đổi ở mức 2,054%. (4) Các nhà phân tích tại Danske Bank tin rằng tác động của chủ tịch mới có thể bị hạn chế, vì các nhà lãnh đạo EU trong lịch sử đã tập trung vào việc duy trì sự cân bằng giữa phe ôn hòa và phe diều hâu trong Ban Điều hành. Sự gia tăng gần đây của lợi suất trái phiếu châu Âu một phần là do mối tương quan của chúng với lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ; dữ liệu lạm phát yếu của Mỹ và những lo ngại về trí tuệ nhân tạo làm gián đoạn thị trường chứng khoán đã thúc đẩy nhu cầu trú ẩn an toàn. Lạm phát khu vực đồng euro hiện đang được kiểm soát và thị trường kỳ vọng ECB sẽ giữ nguyên lãi suất trong phần còn lại của năm.
16:02:17
[IMF đưa ra ba cảnh báo cho Nhật Bản: Độc lập của Ngân hàng Trung ương, Kiềm chế tài chính, Thuế tiêu thụ không thay đổi] ⑴ Ngày 17 tháng 2, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố một báo cáo đưa ra ba cảnh báo chính sách quan trọng cho chính phủ Nhật Bản: duy trì sự độc lập của Ngân hàng Nhật Bản, kiểm soát việc mở rộng tài chính và tránh giải quyết các vấn đề sinh kế bằng cách cắt giảm thuế tiêu thụ. Việc công bố báo cáo trùng với cuộc bầu cử thủ tướng Nhật Bản, thu hút sự chú ý đáng kể của thị trường đối với định hướng chính sách của chính phủ mới. ⑵ Về chính sách tiền tệ, IMF nhấn mạnh rằng việc duy trì sự độc lập và uy tín của Ngân hàng Nhật Bản giúp ổn định kỳ vọng lạm phát. Tổ chức này tuyên bố rõ ràng rằng Ngân hàng Nhật Bản "nên tiếp tục chấm dứt nới lỏng tiền tệ, đưa lãi suất chính sách về mức trung lập vào năm 2027". Lập trường này trái ngược với lời kêu gọi từ một số chính trị gia về việc tạm dừng tăng lãi suất. ⑶ Về chính sách tài khóa, IMF tin rằng việc nới lỏng hơn nữa là không nên trong ngắn hạn, trái ngược với khái niệm "chính sách tài khóa có trách nhiệm và chủ động" do Sanae Takaichi đề xuất. IMF chỉ ra rằng mặc dù Nhật Bản có một số dư địa tài chính, nhưng nước này vẫn cần phải kiềm chế để củng cố bộ đệm tài chính và duy trì khả năng đối phó với những cú sốc trong tương lai. Về lâu dài, thâm hụt ngân sách của Nhật Bản sẽ mở rộng và tổng nợ công sẽ tiếp tục tăng. (4) Về các chính sách sinh kế, IMF đã công khai phản đối việc cắt giảm thuế tiêu thụ. Thị trường đang theo dõi sát sao liệu Sanae Kashiwagi có tiếp tục thúc đẩy cam kết "thuế tiêu thụ thực phẩm bằng 0" trong hai năm mà bà đã đề xuất trước đó hay không, và lập trường của bà về việc ngân hàng trung ương tiếp tục tăng lãi suất.
16:01:29
Giá trị cuối cùng trong tháng một của pháp trừ thuốc lá
Giá Trị Trước
:
119.76
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
99.57
Giá Trị Trước
16:01:14
Tháng giêng của pháp, ngoại trừ thuốc lá -- giá trị cuối mùa chưa điều chỉnh
Giá Trị Trước
:
0.10%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
-0.40%
Giá Trị Trước
16:00:18
Giá trị cuối cùng của tháng một CPI của pháp
Giá Trị Trước
:
0.30%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
0.30%
Giá Trị Trước
16:00:17
Tỉ lệ tháng một của CPI ở nam phi
Giá Trị Trước
:
0.20%
Dự Đoán
:
0.10%
Giá Trị Công Bố
0.20%
Giá Trị Trước
16:00:16
Tỉ lệ tháng một của CPI của nam phi
Giá Trị Trước
:
0.10%
Dự Đoán
:
0.20%
Giá Trị Công Bố
0.30%
Giá Trị Trước
16:00:16
Tỉ lệ CPI hàng năm của nam phi trong tháng một
Giá Trị Trước
:
3.30%
Dự Đoán
:
3.30%
Giá Trị Công Bố
3.40%
Giá Trị Trước
16:00:14
Giá trị cuối cùng của tháng giêng CPI của pháp
Giá Trị Trước
:
-0.30%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
-0.30%
Giá Trị Trước
16:00:13
Tỉ lệ CPI hàng năm của tháng một ở nam phi
Giá Trị Trước
:
3.60%
Dự Đoán
:
3.40%
Giá Trị Công Bố
3.50%
Giá Trị Trước
16:00:05
Pháp tháng một hòa giải tỷ lệ tiêu chuẩn hàng năm của CPI
Giá Trị Trước
:
0.40%
Dự Đoán
:
0.40%
Giá Trị Công Bố
0.40%
Giá Trị Trước
15:59:51
Pháp tháng giêng hòa giải giá trị cuối tháng của CPI
Giá Trị Trước
:
-0.40%
Dự Đoán
:
-0.40%
Giá Trị Công Bố
-0.40%
Giá Trị Trước
15:47:20
Tháng giêng của pháp, ngoại trừ thuốc lá -- giá trị cuối mùa chưa điều chỉnh
Giá Trị Trước
:
0.70%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
0.30%
Giá Trị Trước
15:47:20
Tháng giêng của pháp, ngoại trừ thuốc lá -- giá trị cuối mùa chưa điều chỉnh
Giá Trị Trước
:
0.70%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
0.30%
Giá Trị Trước
15:38:52
[Nhiệm kỳ của bà Lagarde vẫn chưa chắc chắn, Ban lãnh đạo ECB trải qua "cuộc cải tổ"] ⑴ Người phát ngôn của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hôm thứ Tư tuyên bố rằng Chủ tịch Christine Lagarde vẫn chưa đưa ra bất kỳ quyết định nào về việc có hoàn thành nhiệm kỳ đầy đủ của mình (đến tháng 10 năm 2027) hay không, nhấn mạnh rằng bà "hoàn toàn tập trung vào nhiệm vụ hiện tại của mình". Trước đó, các báo cáo truyền thông cho rằng bà Lagarde có thể từ chức sớm để cho phép Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Đức Merz tham gia vào việc lựa chọn người kế nhiệm bà. ⑵ ECB đang bước vào giai đoạn thay đổi nhân sự mạnh mẽ ở cấp cao. Nhiệm kỳ 8 năm của Phó Chủ tịch Charles de Guindos sẽ kết thúc vào tháng 5 này, và nhiệm kỳ của Nhà kinh tế trưởng Lane cũng sẽ hết hạn vào tháng 5 năm 2027. Việc bổ nhiệm các quan chức cấp cao của ECB thường được quyết định bởi các chính phủ khu vực đồng euro thông qua các cuộc đàm phán phức tạp, với Đức và Pháp có ảnh hưởng đáng kể. ⑶ Tình hình chính trị Pháp làm tăng thêm sự không chắc chắn cho cuộc cải tổ nhân sự này. Cuộc bầu cử tổng thống sẽ được tổ chức vào tháng 4 tới; Macron, người đã phục vụ hai nhiệm kỳ, không đủ điều kiện tranh cử, và đảng cực hữu Tập hợp Quốc gia được dự đoán sẽ thể hiện mạnh mẽ. Thống đốc Ngân hàng Pháp Villeroy đã thông báo hồi đầu tháng này rằng ông sẽ từ chức vào đầu tháng 6, có nghĩa là người kế nhiệm ông sẽ được bổ nhiệm trước cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo. (4) Vào tháng 5 năm 2025, các báo cáo xuất hiện cho rằng Lagarde đang cân nhắc việc rời nhiệm sở sớm, và ECB đã phản hồi rằng chủ tịch "quyết tâm hoàn thành nhiệm kỳ của mình". Sự suy đoán mới này xuất hiện vào thời điểm quan trọng đối với sự thay đổi chính sách tiền tệ của ECB, và sự không chắc chắn xung quanh các nhân sự cấp cao làm tăng thêm các biến số mới cho con đường chính sách trong tương lai.
15:26:50
[Chứng khoán châu Á phục hồi khi đàm phán Mỹ-Iran xoa dịu lo ngại về nguồn cung] ⑴ Chứng khoán châu Á tăng điểm vào thứ Tư bất chấp những lo ngại dai dẳng về trí tuệ nhân tạo. Chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản tăng 1,4%, chấm dứt chuỗi ba ngày giảm điểm; chỉ số S&P/ASX 200 của Úc tăng 0,5%. Hầu hết các thị trường ở Trung Quốc đại lục và Hồng Kông đều đóng cửa nghỉ lễ Tết Nguyên đán. ⑵ Giá dầu phục hồi nhẹ sau khi giảm xuống mức thấp nhất trong hơn hai tuần ở phiên trước đó do tiến triển trong các cuộc đàm phán hạt nhân Mỹ-Iran đã xoa dịu những lo ngại về gián đoạn nguồn cung. Ngoại trưởng Iran tuyên bố rằng hai bên đã đạt được sự hiểu biết về các "nguyên tắc chỉ đạo" chính để giải quyết tranh chấp hạt nhân kéo dài. Giá dầu Brent kỳ hạn tăng 0,2% lên 67,60 USD/thùng. ⑶ Đồng đô la New Zealand giảm 0,8% sau khi Ngân hàng Dự trữ New Zealand giữ nguyên lãi suất ở mức 2,25% và cho biết chính sách có thể cần phải duy trì nới lỏng trong một thời gian để hỗ trợ phục hồi kinh tế. Đồng đô la Úc giảm 0,2% xuống còn 0,7069 đô la Mỹ, trong khi đồng yên Nhật tăng nhẹ lên 153,58. (4) Thị trường đang chờ đợi biên bản cuộc họp tháng 1 của Cục Dự trữ Liên bang được công bố vào cuối ngày thứ Tư để tìm tín hiệu về lộ trình lãi suất. Lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm chuẩn tăng nhẹ lên 4,0712%, trong khi chỉ số đô la giữ ổn định ở mức 97,22. Vàng tăng 1% lên 4.926 đô la mỗi ounce và bạc tăng 2,15%.
15:24:13
[Chỉ số CPI lõi của Anh giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9 năm 2021, lạm phát dịch vụ vẫn cao hơn dự kiến] ⑴ Dữ liệu được công bố hôm thứ Ba cho thấy chỉ số CPI lõi của Anh tăng 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng Giêng, thấp hơn mức 3,2% của tháng trước, đánh dấu mức thấp nhất kể từ tháng 9 năm 2021 (2,9%). So với tháng trước, chỉ số này giảm 0,6%, phần lớn phù hợp với kỳ vọng của thị trường. ⑵ Lạm phát dịch vụ vẫn dai dẳng. Chỉ số CPI dịch vụ tăng 4,4% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng Giêng, cao hơn kỳ vọng của thị trường là 4,3%, nhưng thấp hơn mức 4,5% của tháng trước. So với tháng trước, chỉ số này giảm 0,3%. ⑶ Sau khi dữ liệu được công bố, hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ Anh tăng nhẹ, chạm mức cao kỷ lục mới trong ngày thứ Ba, đánh dấu sáu ngày giao dịch tăng liên tiếp, trước khi giảm trở lại. Thị trường hiện đang kỳ vọng 75% khả năng Ngân hàng Anh sẽ cắt giảm lãi suất 25 điểm cơ bản vào tháng Ba. ⑷ Lạm phát lõi tiếp tục giảm tạo thêm dư địa cho Ngân hàng Anh cắt giảm lãi suất hơn nữa. Tuy nhiên, lạm phát dịch vụ vẫn ở mức cao, điều này có thể khiến ngân hàng trung ương thận trọng khi nới lỏng chính sách. Thị trường sẽ tập trung vào các dữ liệu về tiền lương và việc làm sắp tới để đánh giá thêm hướng đi của lạm phát.
15:09:55
Anh quốc không điều chỉnh CPI trong tháng một
Giá Trị Trước
:
140.10
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
0.20
Giá Trị Trước
15:09:54
Tỉ lệ hàng tháng của chỉ số giá bán lẻ trong tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
0.70%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
2.50%
Giá Trị Trước
15:09:53
Tỉ lệ hàng năm của chỉ số giá bán lẻ trong tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
4.10%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
0.40%
Giá Trị Trước
15:09:53
Tỉ lệ tháng một của CPI ở anh
Giá Trị Trước
:
0.30%
Dự Đoán
:
-0.70%
Giá Trị Công Bố
0%
Giá Trị Trước
15:09:52
Tỉ lệ hàng tháng của chỉ số giá bán lẻ tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
0.70%
Dự Đoán
:
-0.40%
Giá Trị Công Bố
-0.20%
Giá Trị Trước
15:09:51
Tỉ lệ tháng một của CPI ở anh
Giá Trị Trước
:
0.40%
Dự Đoán
:
-0.40%
Giá Trị Công Bố
-0.60%
Giá Trị Trước
15:09:51
Tỉ lệ tháng một của CPI ở anh
Giá Trị Trước
:
3.40%
Dự Đoán
:
3%
Giá Trị Công Bố
3.70%
Giá Trị Trước
15:09:51
Tỉ lệ hàng năm của chỉ số giá bán lẻ tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
4.20%
Dự Đoán
:
3.80%
Giá Trị Công Bố
-0.50%
Giá Trị Trước
15:09:51
Tỉ lệ CPI hàng năm của tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
3.20%
Dự Đoán
:
3%
Giá Trị Công Bố
139.50%
Giá Trị Trước
15:09:51
Chỉ số giá bán lẻ tháng một của anh
Giá Trị Trước
:
408.50
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
2.90
Giá Trị Trước
15:09:46
Chỉ số xu hướng việc làm trong tháng tư hoa kỳ
Giá Trị Trước
:
104.27
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
3.08
Giá Trị Trước
15:06:36
Trong tháng một, anh quốc không điều chỉnh tỷ lệ hàng năm của xuất cốt lõi PPI
Giá Trị Trước
:
3.20%
Dự Đoán
:
3%
Giá Trị Công Bố
2.90%
Giá Trị Trước
15:06:36
Trong tháng một, anh quốc không điều chỉnh số xuất cốt lõi PPI tỷ lệ hàng tháng
Giá Trị Trước
:
-0.10%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
0.20%
Giá Trị Trước
15:05:30
Anh nhập vào tỷ lệ hàng năm của PPI trong tháng một
Giá Trị Trước
:
0.80%
Dự Đoán
:
0.30%
Giá Trị Công Bố
-0.20%
Giá Trị Trước
15:05:29
Tỷ lệ hàng tháng của PPI không được điều chỉnh theo mùa trong tháng một
Giá Trị Trước
:
-0.20%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
0.40%
Giá Trị Trước
15:03:53
Anh quốc không điều chỉnh theo mùa trong tháng một
Giá Trị Trước
:
3.40%
Dự Đoán
:
2.90%
Giá Trị Công Bố
2.50%
Giá Trị Trước
15:03:53
Anh quốc không điều chỉnh theo mùa trong tháng một, PPI tỷ lệ hàng tháng
Giá Trị Trước
:
0%
Dự Đoán
:
0.20%
Giá Trị Công Bố
0%
Giá Trị Trước
15:02:33
Anh quốc không điều chỉnh CPI trong tháng một
Giá Trị Trước
:
140.10
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
139.50
Giá Trị Trước
15:02:20
Tỉ lệ tháng một của dịch vụ CPI ở anh
Giá Trị Trước
:
0.40%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
-0.30%
Giá Trị Trước
15:02:19
Tỉ lệ dịch vụ tháng một của anh
Giá Trị Trước
:
4.50%
Dự Đoán
:
4.30%
Giá Trị Công Bố
4.40%
Giá Trị Trước
15:00:45
Anh quốc không điều chỉnh CPI trong tháng một
Giá Trị Trước
:
140.10
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
139.50
Giá Trị Trước
15:00:12
Tỉ lệ hàng tháng của chỉ số giá bán lẻ tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
0.70%
Dự Đoán
:
-0.40%
Giá Trị Công Bố
-0.50%
Giá Trị Trước
15:00:12
Tỉ lệ hàng năm của chỉ số giá bán lẻ trong tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
4.10%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
3.70%
Giá Trị Trước
15:00:12
Tỉ lệ tháng một của CPI ở anh
Giá Trị Trước
:
0.30%
Dự Đoán
:
-0.70%
Giá Trị Công Bố
-0.60%
Giá Trị Trước
15:00:12
Tỉ lệ hàng tháng của chỉ số giá bán lẻ trong tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
0.70%
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
-0.50%
Giá Trị Trước
15:00:11
Tỉ lệ tháng một của CPI ở anh
Giá Trị Trước
:
3.40%
Dự Đoán
:
3%
Giá Trị Công Bố
3%
Giá Trị Trước
15:00:11
Tỉ lệ tháng một của CPI ở anh
Giá Trị Trước
:
0.40%
Dự Đoán
:
-0.40%
Giá Trị Công Bố
-0.50%
Giá Trị Trước
15:00:11
Tỉ lệ CPI hàng năm của tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
3.20%
Dự Đoán
:
3%
Giá Trị Công Bố
3.10%
Giá Trị Trước
15:00:11
Chỉ số giá bán lẻ tháng một của anh
Giá Trị Trước
:
408.50
Dự Đoán
:
-
Giá Trị Công Bố
406.40
Giá Trị Trước
15:00:10
Tỉ lệ hàng năm của chỉ số giá bán lẻ tháng một ở anh
Giá Trị Trước
:
4.20%
Dự Đoán
:
3.80%
Giá Trị Công Bố
3.80%
Giá Trị Trước
14:05:53
[Bà Sanae Takaichi chính thức tái đắc cử chức Thủ tướng Nhật Bản] Trong vòng bỏ phiếu đầu tiên để đề cử Thủ tướng tại Hạ viện Quốc hội Nhật Bản chiều nay (18/2), bà Sanae Takaichi, Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do, đã nhận được đa số phiếu bầu, chính thức trở thành Thủ tướng thứ 105 của Nhật Bản. Thượng viện vẫn chưa bỏ phiếu. Mặc dù theo luật pháp Nhật Bản, Thượng viện và Hạ viện về nguyên tắc có quyền lực ngang nhau, nhưng Hạ viện có quyền ưu tiên trong việc lập pháp cũng như bổ nhiệm và bãi nhiệm Thủ tướng. Khi kết quả đề cử của hai viện khác nhau, một cuộc họp chung của Thượng viện sẽ được tổ chức. Nếu cuộc họp chung vẫn không đạt được thỏa thuận, theo Hiến pháp Nhật Bản, kết quả đề cử của Hạ viện sẽ được ưu tiên, có nghĩa là bà Sanae Takaichi đã được bầu. (Tin tức Quốc tế CCTV)
13:18:00
[Thuế quan của Mỹ không cản trở xuất khẩu ô tô của Nam Phi đạt mức cao kỷ lục] Một báo cáo được Hội đồng Kinh doanh Ô tô Nam Phi công bố vào ngày 17 cho thấy, bất chấp tác động của thuế quan Mỹ đối với ngành công nghiệp ô tô Nam Phi, xuất khẩu ô tô của Nam Phi vẫn đạt tăng trưởng trong năm 2025, đạt mức cao kỷ lục. Hội đồng Doanh nghiệp Ô tô Nam Phi (SABC) đã nêu trong báo cáo đánh giá quý mới nhất về tình hình kinh doanh của ngành sản xuất ô tô rằng Nam Phi đã xuất khẩu kỷ lục 414.300 xe sang 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới vào năm 2025, tăng 5,9% so với năm 2024. Báo cáo cho thấy do tác động của thuế quan Mỹ, xuất khẩu ô tô của Nam Phi sang Bắc Mỹ đã giảm xuống còn 6.530 xe vào năm 2025 từ 25.600 xe vào năm 2024. Trong cùng kỳ, do sự sụt giảm xuất khẩu ô tô sang Nhật Bản, tổng xuất khẩu ô tô của Nam Phi sang châu Á đã giảm xuống còn 19.800 xe từ 29.300 xe vào năm 2024. Ngoài ra, xuất khẩu ô tô của Nam Phi sang châu Âu đã tăng từ 295.800 xe vào năm 2024 lên 332.700 xe, chiếm 80,3% tổng xuất khẩu ô tô của Nam Phi vào năm 2025. (Xinhua)